Vua Gia Long
Vua Gia Long sanh năm 1762, mất năm 1819. Sau khi đã bình định nước Việt Nam, Ngài tức Hoàng Đế vị năm 1802 và khai sáng ra Nguyễn Triều.
Lăng của Ngài là lăng Diên Thọ, không mấy người không biết, thuộc địa phận làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Lăng Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu và Bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, nguyên phối và đệ nhị phối cùa Ngài cũng đều táng tại vùng ấy cả.Ngài và hai Bà đều thờ tại Chánh án Thế Miếu và tại Chánh án điện Phụng Tiên ở Kinh Thành Nội.
Hệ Nhứt Chánh gồm có 9 Phòng, tổng cộng về nam được 380 người (năm 1943).
Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế là vị Vua đầu tiên và là người đã lập ra triều đại nhà Nguyễn, sau khi thống nhất sơn hà, đặt quốc hiệu Việt Nam. Ngài đã sáng lập Hệ Nhất Chánh Nguyễn Phước.Ngài là Hoàng Tử thứ 3 của Ngài Nguyễn Phúc Luân. lúc còn tuổi thơ ấu, Ngài rất được Chúa Nguyễn Phúc Thuần thương yêu, nên được ở trong học đường Vương Phủ. Vào tuổi thiếu niên Ngài đã tỏ ra là người tài trí, khôn ngoan với đức tính khoan hoà, đầy nghị lực của đấng lập nghiệp lớn
Năm 1777 khi Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, cùng với cháu là Hoàng Thân Nguyễn Phúc Đồng (con Ngài Nguyễn Phúc Luân) và Tống Phước Thuận, Nguyễn Doanh Khoảng...bị Nguyễn Huệ bắt tại Long Xuyên và đem về Sài Gòn giết, thì chỉ có một mình Hoàng Thân Nguyễn Phúc Ánh thoát nạn. Ngài chạy ra đảo Thổ Châu (Hà Tiên) và từ đó mọi quyền hành quốc sự do Ngài thống lĩnh.
Năm 1778 (16 tuổi) Ngài được ba quân suy tôn lên làm nguyên soái nhiếp chính quốc và khởi binh chiếm lại Gia Định.
Từ đó suốt 24 năm, được sự ủng hộ của dân nghĩa hiệp vùng đất mới khai hoá từ Gia Định đến Phú Quốc, từ Cà Mau đến Hà Tiên, Ngài đã vượt qua mọi gian nguy, bao phen vào sanh ra tử, kiên cường chống lại quân Tây Sơn. Cuối cùng Ngài khôi phục lại xứ Đàng Trong của các Tiên Chúa. Năm 1801 tiến quân ra Bắc Hà, đánh bại hoàn toàn nhà Tây Sơn; năm 1802 lập nên một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc, từ mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan như ngày nay.(26)
Sau khi lên ngôi Hoàng Đế năm 1802, Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế đã xếp đặt lại cơ cấu điều hành quốc gia, cho soạn bộ luật Gia Long, thành lập Quốc Tử Giám, ấn định học hiệu và các loại thuế. Công cuộc cai tri đất nước được thuận lợi sau khi thực hiện các việc lớn như: Tổ chức triều đình gồm có lục bộ và Đô Sát Viện; phân chia khu vực hành chánh (Tổng trấn, Trấn, Phủ, Huyện, Xã); ấn định quyền hạn chức chương, lương bổng, văn võ giai các cấp, tu soạn sách sử, văn truyện, địa lý, lập dinh Điền Sứ trông coi việc khai khẩn ruộng đất.
Trong dòng họ, Ngài ban dụ Quốc Thúc Tôn Thất Thăng lo viêc gia huấn trong thân tộc, làm phổ hệ Tôn Thất, đặt chức Tôn Nhơn Lệnh, Tôn Nhơn Phủ quản trị quốc tộc.
Sau 18 năm ở ngôi, Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế băng hà năm 1820. Miếu hiệu Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Gia Long). Lăng của Ngài hiệu Thiên Thọ, tại làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Tôn thờ Ngài tại Chánh Án Miếu ở Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.
Hệ Nhất Chánh có 9 phòng.Hoàng Hậu của Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế:
- Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu, huý Tống Thị, con Ngài Thái Bảo Khuông Quận Công, huý Tống Phước Khuông và Bà Quốc Phu Nhân Lê Thị.Hoàng Hậu băng hà năm 1814, hiệp táng tại lăng Thiên Thọ, làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
- Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, huý Trần Thị, con Ngài Lễ Bộ Tham Tri Trần Hưng Đạt.Hoàng Hậu băng hà năm 1846. Lăng của Hoàng Hậu là Thiên Thọ Hữu, trong khu vực Thiên Thọ Lăng.Hai Bà đều tôn thờ tại Án Chánh Miếu ở Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.
Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế (Gia Long) có 13 Hoàng Tử và 18 Công Chúa.
Cuộc Đời Chinh Chiến Của Nguyễn Ánh
Trong cuộc chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh từng trải qua lắm gian lao. Nhiều truyền thuyết, chuyện kể còn lưu truyền trong dân gian. Suốt 25 năm, Nguyễn Ánh chạy gần khắp nơi trong Nam, khi về Cà Mau, khi trốn ra đảo Phú Quốc, khi lại phiêu bạt sang Xiêm...
Nhiều lúc không còn lương thực, Nguyễn Ánh phải ăn trái bần chua với mắm sống; tay bốc cơm nguội, tay xé mắm chứ không dùng đũa. Một hôm có con cá nhỏ tự dưng nhảy vào thuyền ông, báo tin đừng sớm ra khơi, cưú ông khỏi bị Tây Sơn chận ngoài biển. Vào tháng 4 năm Nhâm Dần thứ III ( 1782) Nguyễn Ánh vào Hà Tiên, đi thuyền nhỏ ra biển giữa đêm tối như mực bổng có vật gì như đội dưới đáy thutền, mờ sáng ông mới hay là một bày rắn, bầy tôi ai cũng sợ hãi, Nguyễn Ánh giục thuyền chèo mau, một lúc sau bầy rắn đi hết, thuyền ra được đảo Phú Quốc, cái tích " gặp rắn thì đi, gặp quy thì vể" xuất hiện từ đó. Có lần thuyền Nguyễn Ánh định ra khơi, bỗng có con kỳ đà lội qua sông chặn đường không cho thuyền ra biển, sau Nguyễn Ánh mới rõ nếu ra thì sẽ bị quân Tây Sơn chặn bắt. Tích " kỳ đà cản mũi " phát sinh từ chuyện này.
Những chuyện thoát hiểm của Nguyễn Ánh thật lắm ly kì. Năm Quý Mão thứ IV ( 1783) quân Tây Sơn vào Nam đánh riết, Nguyễn Ánh cùng năm, sáu kẻ bầy tôi phải bỏ chạy tháo quân. Qua sông Lật, nước chảy mạnh quá lại không có đò, Nguyễn Ánh phải nhào xuống lội qua. Đến sông Đặng (1) có nhiều cá sấu, Nguyễn Ánh bí đường. Chợt có con trâu nằm trên bờ. Nguyễn Ánh cởi trâu mà qua, nhưng nước chảy xiết, nhấn chìm trâu, may thay có con cá sấu đỡ trâu lên, cứu ông thoát được lên bờ.
Tháng 7 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ nghe tin nguyễn Ánh ở Côn Lôn, đem hết lính thủy vây riết. Tự nhiên giông tố nổi lên, mây kéo tối rầm, sóng biển dâng to, thuyền Tây Sơn bị chìm quá nhiều, Nguyễn Ánh mới thoát được.
Một lần, Nguyễn Ánh ra cửa biển Ma Ly thám thính tình thế Tây Sơn, gặp thuyền Tây Sơn hơn hai mươi chiếc vụt tới vây phủ. Ông liền kéo thuyền chạy về phía đông, lênh đênh ngoài cửa biển bảy ngày đêm. Thuyền hết nước, quân lính sắp chết khát, Nguyễn Ánh ngửa mặt lên trời khấn rằng: "Như tôi có mạng làm vua, xin cho thuyền ghé vào trong bờ để cứu tánh mạng mấy người trong thuyền ! Nếu không, thuyền chìm xuống biển, tôi cũng cam tâm". Bỗng nhiên gió lặng sóng im, mặt chia ra dòng trắng, dòng đen, bọc lấy dòng trong ở giữa. Trong thuyền có người múc uống, nếm thấy ngọt, liền la to: "Nước ngọt, nước ngọt!". Ánh mùng rỡ sai múc, vừa được 4, 5 chum thì nước lại mặn như trước.
Trong cuộc chiến với Tây Sơn, nhiều khi quân Nguyễn Ánh thắng là nhờ may mắn. Khi quân Nguyễn Ánh đến gần thành Qui Nhơn, Trần Quang Diệu, Vũ văn Dũng vừa đến Quãng Nghĩa. Nghe quân Nguyễn Ánh đã giữ lại xứ Tam Quan, hai tướng bèn bỏ thuyền lên bộ, kéo đi hơn 20.000 quân. Diệu ở ngoài đèo Bến Đá giả gây thanh thế, Dũng đem quân đến Chung Xá mưu đánh úp Nguyễn Ánh. Ban đêm đi qua khe, có một con nai trong rừng nhảy ra, quân tiền đạo của Dũng nhìn thấy la lên : "Nai! Nai! ". Quân hậu đạo cũng vội la lên: "Đồng Nai", Quân Tây Sơn tưởng là quân Nguyễn ở Đồng Nai bất thần ập tới nên khiếp sợ bỏ chạy, sập xuống hầm hố khá nhiều. Tống Viết Phúc nhân cơ hội đó đem vài trăm quân ra đuổi, làm quân tây Sơn thua to. Quan trấn thủ thành Qui Nhơn là Lê Văn Thanh mãi không thấy viện binh đến, mà luơng thực dự trữ đã hết sạch, nên đành phải mở cửa ra hàng. Nguyễn Ánh chiếm được thành, đổi Qui Nhơn là Bình Định.
(Theo Quốc triều chính biên và Tôi biết gì về Gia Long tẩu quốc của Vương Hồng Sến)
Gia Long và Các Công Thần
Gia Long Thành công được là nhờ các tướng tá hết lòng phò trợ, trong số đó có Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường. Nhưng cả hai đều bị giết hại trong khi Gia Long đang còn trị vì.Nguyễn Văn Thành là người Thừa Thiên, theo Nguyễn Ánh từ khi mới khởi binh đánh Tây Sơn, chịu bao đắng cay khổ sở; sau khi đánh Tây Sơn ở Qui Nhơn, lập được công lớn, đứng đầu hàng công thần. Khi ra lấy Bắc Hà, Gia Long triệu ông làm Tổng Trấn, giao cho xếp đặt mọi việc, chỉ mấy năm mà đất Bắc Hà được yên trị. Sau đó, ông về kinh làm chức Trung Quân.
Nguyễn Văn Thành có người con trai là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ cử nhân, thường hay làm thơ để giao du với những kẻ văn sĩ. Bấy giờ nghe Nguyễn văn Khuê và nguyễn Đức Nhuận có tiếng hay chữ, Văn Thuyên bèn làm bài thơ sai tên Nguyễn Trương Hiệu cầm đi mời hai vị vào chơi. Bài thơ như sau:
Văn dạo Á Châu da tuấn kiệt
Hư hoài trắc dục cầu ty.
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác,
Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn.
Cao cương minh phượng cửu thiên tri
Thư hồi nhược đắc sơn trung tế
Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky.
Dịch nôm là:
Ái Châu nghe nói lắm người hay,
Ao ước cầu hiền đã bấy nay.
Ngọc phát Kinh Sơn tài sẵn đó
Ngựa Kỳ kí bắc biết lâu thay.
Mùi hương hang tối xa nghìn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tể phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau xoay đổi hội cơ này
Tưởng bài thơ này là lời lẽ nói ngông mà thôi, không ngờ tên Hiệu đưa cho Nguyễn Hữu Nghi xem, Nguyễn Hữu Nghi là thuộc hạ của Nguyễn Văn Thành, một lần lỗi nhẹ mà bị Thành khiển trách, quở mắng rất nặng, chạy sang xin làm môn hạ cho tả quân Lê Văn Duyệt. Được trọng dụng, Nguyễn Hữu Nghi vẩn không quên âm mưu trả thù Nguyễn Văn Thành. Nhân bài thơ này,Nghi đem cho Lê Văn Duyệt xem. Lê Văn Duyệt lại có hiềm khích với Nguyễn Văn Thành nên nắm lấy cơ hội, vào tâu vua. Nhưng vua Gia Long cho là " Thuyên còn trẻ, ưa lối thơ nghông nghênh, chưa đủ căn cứ để kết án.
Nguyễn Hữu Nghi xúi Nguyễn Trương Hiệu đưa bài thơ ra dọa Nguyễn Văn Thành. Thành liền bắt Hiệu và cả con mình giao cho các quan dinh Quảng Đức điều tra. Bị tra tấn mấy ngày đêm liền, Nguyễn văn Thuyên thú nhận là có mưu phản. Thế là các triền thần ủng hộ Lê Văn Duyệt thi nhau tố cáo Nguyễn Văn Thành xin nhà vua nghiêm trị.
Uất ức quá, một hôm khi bãi triều, Nguyễn văn Thành chạy theo nắm lấy áo Gia Long mà khóc rằng:
- Thần theo bệ hạ từ thuở nhỏ đến bây giờ, nay không có tội gì mà bị người ta cấu xé mà lại không cứu?
Gia Long giật áo ra, bỏ vào cung, từ đó cấm Thành không được vào chầu và sai Lê Văn Duyệt đem Nguyễn Văn Thuyên ra tra hỏi một lần nữa. Nguyễn Văn Thuyên lại thú nhận tội của mình. Gia Long được tin, truyền bắt giam Nguyễn Văn Thành để chờ đình thần xét án. Thành và mấy người con bị bắt giam ở trong trại quân Thị Trung. Hôm đình thần tra án rồi, Thành ra nói với Thị Trung Thống Chế là Hoàng Công Lý rằng:
- Án xong rồi, vua khiến tôi phải chết, nếu không chết thời không phải là tôi trung. Rồi uống thuốc chết ở trại quân. Có người đem bài biểu trần tình dâng lên Gia Long xem. Gia Long có vẻ thương tiếc, sai một Chánh Đội Trung Quân và 30 tên lính coi việc tang cho Thành, hoàn trả áo mão, lại ban cho 500 quan tiền, 3 cây gấm, 10 cây vải, 10 cây lụa, mấy người con bị giam đều được tha cả.
Đặng Trần Thường người ở Chương Đức (tức Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông) có tài văn học, trốn Tây Sơn vào Gia Định, theo giúp Gia Long, làm đến Bình Lộ Thượng Thư. Một lần, vì làm gian Sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc làm tướng nhà Trịnh vào bậc phúc thần, triều đình kết án phải tội chém. Nhưng rồi Thường lại được tha. Đặng Trần Thường trước có hiềm khích với Lê Chất, nên Chất mới bới những việc sai phạm của Thường như khi ra coi tàu binh ở Bắc Thành, có giấu thuế đầm ao và dinh điền. Thường lại bị bắt giam. Trong ngục, Trần Thường tỏ ý mỉa mai, đến tai đình thần, nên khi kết án, đình thần xử tội giảo.
Tương truyền Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm bài Hàn Vương Tôn Phú bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời Hán .
( Theo Việt Nam sử lược và Quốc Triều Chỉnh Biên )
1) Nguyên tác và bản dịch của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, quyển II, Trang 182- 183
Các Bà Phi Của Gia Long
Gia Long có hai bà phi được phong làm Hoàng Hậu là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (mẹ Hoàng tử Cảnh) và Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (Mẹ Minh Mạng); nhà vua còn sách phong cho bà Lê thị Ngọc Bình (con vua Lê Hiển Tông, em Ngọc Hân Công Chúa) làm Đệ Tam Cung. Bà này sinh được hai Hoàng Tử là Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương.
Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu họ Tống. Năm lên 18 tuổi, Nguyễn Ánh cưới bà đầy đủ nghi lễ truyền thống và tấn phong làm Nguyên Phi. Bởi tính tình cẩn trọng, cử chỉ đoan trang, nên bà được Nguyễn Ánh rất quý trọng.
Mùa thu năm Quý Mão (1873) Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh, phải chạy ra đảo Phú Quốc, sau đó thấy tình hình nguy ngập, Nguyễn Ánh gửi Hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) qua Pháp xin cầu viện. Lúc ấy, Hoàng Tử Cảnh mới 4 tuổi. Bá Đa Lộc lạy xin thọ mạng. Nguyễn Ánh và bà Nguyên phi lau nước mắt đưa hoàng tử Cảnh sang Pháp. Sau khi Hoàng Tử Cảnh đi rồi, Nguyễn Ánh lấy một thoi vàng chặt đôi (một thoi 20 lượng) trao cho bà, một nửa và căn dặn: Con ta đi rồi, ta cũng sẽ đi sang Xiêm. Vậy Phi phải ở lại đây (Phú Quốc) để cung phụng Quốc Mẫu (tức bà Thiếu Khương , vợ của Nguyễn Phúc Luân) chưa biết gặp nhau khi nào và ở chỗ nào, vậy lấy vàng này làm tin.
Trong những ngày Nguyễn Ánh bôn tẩu, khi ở Xiêm, lúc ở Việt, bà vẫn một mình hầu hạ mẹ chồng. Ngoài việc hầu hạ mẹ chồng, bà còn thân hành may dệt nhung phục cho quân lính. Một lần, quân Nguyễn giao chiến với quân Tây Sơn, đến hồi quyết liệt, quân Nguyễn núng thế, muốn rút lui, bà tự tay nổi trống thúc quân, quân Nguyễn Ánh hăng hái trỏ lại, xông lên và cuối cùng thắng lợi .
Sau ngày thu phục đất nước, Gia Long hỏi bà nửa thoi vàng năm xưa, bà đem vàng ra trình lên. Gia Long vô cùng cảm động, cầm lấy nửa thoi vàng và bảo rằng: Vàng này mà còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp cho trong lúc gian nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết. Dứt lời, Gia Long lấy nửa thoi vàng của mình ráp với nửa thoi vàng của bà Nguyên Phi, rồi trao hết cho bà.
Bà Tam Cung Lê thị Ngọc Bình Cuộc tình duyên của với Gia Long cũng khá lạ kỳ. Sau khi thắng trận trở lại Phú Xuân, Nguyễn Ánh gặp bà vợ trẻ của Quan Toản là công chúa Ngọc Bình đang còn ở lại trong cung, không kịp chạy theo vua Tây Sơn. Say mê trước sắc đẹp của bà, Nguyễn Ánh quyết định lấy bà, sau đó đã phong làm Đệ tam Cung. Bà Ngọc Bình lấy hai đời chồng đều làm vua (Cảnh Thịnh và Gia Long) nên trong dân gian có câu ca dao:
Số đâu có số lạ lùng!
Con vua mà lấy hai chồng làm vua.
Cũng là một sự trớ trêu! Nguyễn Huệ Quang Trung chồng bà Ngọc Hân công chúa; Nguyễn Ánh Gia Long chồng bà Ngọc Bình, em Ngọc hân; hai kẻ cừu địch không đội trời chung ấy lại trở thành anh em "cột chèo "!
Đó là những bà phi đặc biệt và nổi tiếng.
Còn các bà phi khác trong Hoàng Cung, những gần một trăm bà, lại xảy ra bao chuyện rắc rối. Bài báo của Michel Đức Chaigneau đăng trong tờ Le monniteur de la Flotte xuất bản năm 1858 tường thuãt như sau:
- "Khanh sẽ không ngờ rằng cái gì đợi Trẫm ở đây kia (Ngài chỉ vào hậu cung của Ngài) khi Trẫm rời khỏi nơi đây, ở đây Trẫm được hài lòng vì Trẫm nói chuyện với những người xứng đáng, họ lắng nghe Trẫm, họ hiểu biết Trẫm, và khi cần họ vâng lệnh Trẫm răm rấp, còn ở đằng kia Trẫm gặp phải một lũ quỉ sứ thật sự . Chúng cãi vả nhau, ngược đãi nhau, phỉ báng nhau và sau đó tất cả cũng chạy đến cầu xin Trẫm phân xử. Nếu làm đúng thì Trẫm sẽ luôn luôn khiển trách tất cả. Vì Trẫm không biết ai sẽ nhường nhịn ai trong cơn giận dử ".
Sau một lúc im lặng Ngài tiếp: "Chốc nữa trẫm sẽ ở giữa một đám yêu phụ làm Trẫm điếc tai, nhức óc" (vừa giả giọng và điệu bộ của một người đàn bà trong cơn giận dữ; Ngài vừa thét): "Muôn tâu Bệ Hạ, Bệ Hạ phân xử, bà đã sỉ nhục thần thiếp, người ta ngược đãi thần thiếp, thần thiếp xin phân xử ".
Nhà vua phì cười, rồi nhìn vị đối thoại của Ngài như để gơi ý. Vị quan Pháp cũng cười ngất, nhất là bản kịch câm của nhà vua và những tiếng la hét của Ngài để bắt chước sự giận dữ của các cung phi. Ông tâu: "Việc đó rất dễ, Hoàng Thượng có thể giảm bớt mối sầu khổ của họ bằng cách hạn chế số Cung Phi".
Nhà vua ngắt lời:
- Suỵt ! Hãy nói khẽ! Nói khẽ !
Ngài cho những lính vệ và những hộ vệ quân đã theo Ngài khắp nơi được phép lui ra và nói tiếp ; "Ồ! Ông Chaingneau, nếu các quan đồng liêu của Khanh nghe được điều Khanh vừa mới nói ra đó, họ sẽ trẻ thành những kẻ thù vĩnh viễn của Khanh, Khanh không biết rằng các Cung Phi hầu hết đều là con gái của các quan ư? Này, mặc dù số tuổi của Trẫm đã đáng kể, nhưng không bao lâu nữa, một vị quan sẽ dâng hiến cho Trẫm con gái của ông ta. Trẫm không thể từ chối được, vì như thế, Trẫm sẽ chọc tức ông ta vô cùng đau đớn. Ở đây chính là một vinh dự và một sự đắc ý đối với một ông quan có con gái được vào Hoàng Cung, và đối với Trẫm đó là một sự bảo đảm chắc chắn nhất về lòng trung thành của ông ta. Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông. Nếu Trẫm ghét bỏ mợt một trong các cung phi của Trẫm, thì nó sẽ than phiền với thân phụ nó ngay, và nếu không sỉ nhục to tiếng trước tuổi tác già nua của Trẫm, thì ông ta cũng khéo léo gieo rắc giữa các quan những sự đồn đại vụn vặt về Trẫm, sẽ làm cho Trẫm mang đầy sự lố bịch trước đôi mắt của thần dân".
Hẳn đó là lời bộc bạch chân tình của một ông vua trước một người nước ngoài. Câu đánh giá của Gia Long về phụ nữ ở thế kỷ XIX thật thú vị:
" Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông". Đó là câu đánh giá của một ông vua thời phong kiến, theo chế độ đa thê. Còn bây giờ, ở những đất nước theo chế độ độc thê, không hiểu câu đó có còn đúng không?
----------------------------------------------------------------------------
Publié par Mai Ling à 10:40:18 dans CHÚT LỊCH SỬ VN | Commentaires (0) | Permaliens

HÀNH TÂY(chưa bóc vỏ)
Trị cúm
Năm 1919, khi dịch cúm hoành hành lúc đó đã giết 40 triệu người. Có một vị bác sĩ đến thăm những tá điền để xem họ có cần giúp đỡ gì về việc chống lại dịch cúm đó không vì bao tá điền là họ đã làm gì khác hơn những gia đình xấu số kia, thì người vợ trả lời là, bà đã đặt một củ hành (hành tây) chưa bốc vỏ, lên một cái tô để trong mỗi phòng (thời nhiêu nông phu tá điền và gia đình của họ đã bị nhiễm trùng và đã bị chết rất nhiều !)
Vị bác sĩ này đến thăm gia đình một tá điền thì ông lấy làm ngạc nhiên khi thấy ai cũng rất là khoẻ mạnh! Khi vị bác sĩ này hỏi người gian này có lẻ chỉ có 2 phòng mà thôi ! Vị bác sĩ này không có thể tin được chuyện như vậy, bèn hỏi xem ông có thể lấy một trong những củ hành đó, đặt dưới kính hiển vi để coi có thật không
Bà vợ ông tá điền liền đưa bác sĩ một củ hành, ông bèn để củ hành đó dưới kính hiển vi, và quả thật như vậy, ông thấy những con vi khuẩn của dịch cúm đã ở trong củ hành đó. Dĩ nhiên là chúng đã bị củ hành hút vô. Vì thế mà cả gia đình tá điền này vẫn mạnh khỏe như thường !
Bây giờ thì tôi nghe câu chuyện của bà chủ một Mỹ Viện ở Arizona, Bà ta nói là mấy năm trước kia, nhân viên trong mỹ viện của bà đã bị bệnh cúm, ngay cả những khách hàng của bà cũng bị bệnh nữa !
Năm sau đó, Bà bèn lấy vài củ hành đặt trên vài cái tô, để khắp nơi trong tiệm. Bà lấy làm ngạc nhiên là không một nhân viên nào của bà bị mắc bệnh cúm trong năm đó! (Dĩ nhiên như bạn thấy, bà không phải là con buôn của dịch vụ củ hành gì cả, phải không ?
Mục đích của câu chuyện này là, bạn nên đi mua hành củ về để trong vài cái tô mỗi phòng trong nhà! Nếu bạn làm việc ở văn phòng, bạn cũng nên để vài nơi, dưới hoặc trên bàn hay chổ nào đó !
Bạn cứ thử xem nó ra sao, gia đình tôi đã thử năm vừa qua, kết quả là không ai bi cảm cúm hết! Nếu cách chữa mẹo này giúp bạn và gia đình chống được bệnh cúm thì nhất rồi!!! Nếu bạn có bị nhiễm trùng, thì nó cũng sẽ chỉ là cảm thường mà thôi !
Chỉ vài đồng mua lấy một túi hành thì cũng chẳng có mất mát là bao...Cứ thử đi cho biết, nếu tốt, nên phổ biến !!!
Chắc cũng vì lý do này mà Mai Ling không bao giờ bị cúm. Trong bếp, nơi sinh hoạn nhiều nhất trong ngày, Mai Ling lúc nào cũng có củ hành tây.
-----------------------------------------------------------
SẠN TÚI MẬT

Bác sĩ Nguyễn văn Đích
Sạn túi mât là một bệnh thường gặp. Gần 10% dân chúng có sạn trong túi mật, tuy nhiên chí một ít người (20%) có triệu chứng và cần điều trị.GAN, TÚI MẬT VÀ SẠN TÚI MẬT
Gan là một bộ phận ghép vào ống tiêu hóa. Gan có nhiều nhiệm vụ mà một trong các nhiệm vụ đó là tiết ra mật. Mật là một chất lỏng màu xanh đen, chứa cholesterol, muối mật và lecithine. Mật có đặc tính kiềm và có vai trò quan trọng trong việc tiêu và hấp thụ chất béo và các sinh tố tan trong mỡ.
GAN, TÚI MẬT VÀ SẠN TÚI MẬT
Gan là một bộ phận ghép vào ống tiêu hóa. Gan có nhiều nhiệm vụ mà một trong các nhiệm vụ đó là tiết ra mật. Mật là một chất lỏng màu xanh đen, chứa cholesterol, muối mật và lecithine. Mật có đặc tính kiềm và có vai trò quan trọng trong việc tiêu và hấp thụ chất béo và các sinh tố tan trong mỡ.
CÁC YẾU TỐ KHIẾN DỄ BỊ SẠN TỨI MẬT
1. Phái tính: Phụ nữ bị sạn túi mật nhiều gấp đôi nam giới vì kích thích tố nữ làm tiết nhiều cholesterol trong mật. Thai kỳ, thuốc ngừa thai, tăng thải cholesterol và giảm sự bài tiết mật khiến dễ bị sạn.
2. Tuổi: Khả năng bị sạn tăng dần với tuổi, trẻ em rất ít bị sạn mật. Đến tuổi 40 nhiều người bị sạn. Trên 60 tuổi, 10% đàn ông, 20% đàn bà có sạn túi mật.
3. Di truyền: Có những sắc dân và gia đình hay bị sạn.
4. Mập: Khả năng bị sạn túi mật tăng theo chỉ số cân nặng (BMI).
5. Chế độ ăn: ăn nhiều mỡ, đường và ít vận động tăng khả năng bị sạn tui mật.
6. Xuống cân nhiều, quá 3 LBS trong 1 tuần cũng làm tăng khả năng bị sạn.
7. Nhịn đói, không ăn đều 3 bữa trong một ngày cũng tăng khả năng bị sạn túi mật.
8. Tiểu đường,
9. Xơ gan,
10. Bệnh về máu.
TRIỆU CHỨNG
Trong trường hợp điển hình bệnh nhân bị đau quặn gan. Cơn đau xảy ra sau khi ăn, đau ở vùng dưới bẹ sườn phải, đau âm ỉ, cường độ tăng dần, kéo dài từ 15 phút đến vài giờ. Đau có thể lan lên vai phải và kèm theo buồn nôn. Sau khi lên đến cực điểm cơn đau giảm dần. Thông thường cơn đau không kéo dài quá 4 giờ. Cơn đau thỉnh thoảng tái phát nhưng không liên tục như đau bao tử.
Trong trường hợp không điển hình bệnh nhân chỉ thấy đầy bụng, khó tiêu. Những triệu chứng này có trong nhiều bệnh đường tiêu hóa và không chuyên biệt cho sạn túi mật.
CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán dựa vào thăm khám lâm sàng, được xác định bằng :
1. Siêu âm: là phương pháp thông dụng nhất vì dễ làm, chính xác, và không đắt tiền.
2. CT bụng, đắt tiền mà không cần thiết.
3. Chụp túi mật với chất đồng vị phóng xạ nếu cần phân biệt với viêm túi mật cấp
4. Chụp hình đường mật và ống tuỵ tạng qua nội soi.
5. Siêu âm túi mật qua nội soi vì đầu dò được đặt gần túi mật và ống dẫn mật hơn nên có thể khảo sát chính xác hơn.
6. Xét nghiệm mật để tìm tinh thể cholesterol khi các phưng pháp trên không giúp làm chẩn đoán.
ĐIỀU TRỊ
Tuy nhiều người có sạn trong túi mật, chỉ một số ít người có triệu chứng và cần điều trị. Những người có sạn túi mật có triệu chứng đau thường bị đau lại và có thể có biến chứng. Những người có sạn túi mật do tình cờ phát hiện thường không có triệu chứng và biến chứng do đó không cần can thiệp vì can thiệp không có lợi gì mà lại có thể bị tai biến.
1. Trước đây bệnh nhân cần phải giải phẫu, cần nằm bệnh viện và nghỉ nhiều ngày.
2. Ngày nay, nhờ phương pháp nội soi, có thể cắt túi mật qua da, chỉ cần dùng ống nhỏ chích vào trong ổ bụng cắt và gắp túi mật và sạn ra ngoài. Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể về nhà trong ngày. Chỉ những người lớn tuổi, có bệnh kết hợp mới cần nằm lại dể theo dõi qua đêm.
3. Thuốc. chủ yếu là muối mật như Ursodiol có thể làm tan sạn mật tuy nhiên đắt tiền cần điều trị lâu dài. Vì cắt túi mật qua da quá dễ dàng nên việc điều trị bằng thuốc lâu dài tỏ ra không thực tế.
4. Phá sạn bằng siêu âm rồi dùng thuốc như ursodiol dể làm tiêu các mảnh vụn. Chỉ có thể dùng cho sạn cholesterol. kết quả.không cao. Những người có nhiều sạn, sạn lớn hoặc bị viêm túi mật không điều trị được bằng phương pháp này. Mặt khác họ vẫn cần phải uống thuốc liên tục để ngừa sạn tái phát.
BIẾN CHỨNG
Trong một số trường hợp, sạn túi mật có thể gây biến chứng:
1. Tắc ống dẫm mật. Sạn di chuyển làm tắc mật, gây đau, vàng da do ứ mật. Cần giải phẫu hoặc lấy sạn bằng nội soi.
2. Viêm tụy cấp. Sạn làm tắc ống dẫn dịch tuỵ, gây đau dữ dội, kèm ói mửa, cần nhập viện điều trị và lấy sạn.
3. Viêm túi mật cấp, bệnh nhân đau kéo dài, kèm nóng lạnh và triệu chứng nhiễm trùng, cần nhập viện, điều trị kháng sinh, và cắt túi mật.
PHÒNG NGỪA
Có thể giảm bớt khả năng bị sạn túi mật bằng cách:
1. giữ cân nặng trung bình.
2. ăn đều 3 bữa, bữa ăn có một ít chất mỡ để kích thích túi mật,
3. ăn nhiều chất xơ, ít mỡ động vật,
4. vận động,
5. tránh xuống cân quá nhanh.
(Van Tho/Yahoogroups)
Publié par Mai Ling à 09:34:43 dans SỨC KHOẺ | Commentaires (0) | Permaliens
1|









| Di | Lu | Ma | Me | Je | Ve | Sa |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 2 | 3 | 4 | |||
| 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 |
| 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 |
| 19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 |
| 26 | 27 | 28 | 29 | 30 |
Depuis le 03-12-2008 :
31677 visiteurs
Depuis le début du mois :
2879 visiteurs
Billets :
20 billets
Commentaires