Accueil | Créer un blog | Blog Beauté | Blog Séries 247

Chap V - 1 | 27 février 2009

 
 
        

V

1953

Découverte du sixième sens

        Il y avait en permanence du monde à la maison : oncles, tantes, cousins et cousines. Le soir, les grandes personnes restaient ensemble à bavarder, les enfants jouaient entre eux. Les jouets, on n'en avait pas. Notre poupée était faite d'un trognon de maïs. En guise de cheveux, on plantait une touffe de filaments de maïs à une extrémité et on l'habillait avec des bouts de chiffon. On jouait aussi au papa et à la maman. Ce soir-là, on ne savait plus à quoi jouer. Ce fut une soirée mémorable. L'impact de ma vie...


L'auteur est désolée de ne pouvoir publier ici la suite de ce chapitre qui contient des scènes qui risquent de choquer des personnes sensibles.

Les lecteurs qui souhaitent lire la suite de

Le Sixième Sens de la Petite Souris -

Enfance volée

peuvent se le procurer

au prix de 16 € (livraison gratuite)


dans les POINTS DE VENTE

ou

auprès de l'auteur en appelant 06 70 69 30 12


 


Publié par Mai Ling à 12:54:30 dans ♣ Chapitre V | Commentaires (0) |

Thơ | 09 février 2009

Thơ vui tặng bạn đọc

 

Em ngoan ngồi đợi anh về...


Tặng mấy Cụ ông sắp về VN kiếm gái non:


Tình online có lắm điều lý thú,
Chỉ tội thay cho mấy chú Việt kiều.
Nàng hai mươi, tập tễnh bước vào yêu,
Chàng năm mấy, tuổi xế chiều sống dậy.
Yêu say đắm, yêu chẳng cần che đậy,
Từ quen nhau, chàng cảm thấy yêu đời.
Tóc hoa râm, cặp mắt kiếng đồi mồi,
Chàng nhuộm lại, rồi chơi thêm kiếng mát.
Chải mái tóc y chang Châu Nhuận Phát,
Sửa dáng đi chẳng khác Lưu Ðức Hoà.
Chàng tin rằng mình có số đào hoa,
Nên mới crab được một cô bồ nhí.
Nhưng chuyện đời có nhiều khi phi lý,
Vừa quen nhau mới chỉ một tháng tròn.
Nàng thì thầm, 'Anh yêu có nhớ hông?
Ðúng một tháng, tặng em quà kỷ niệm.'
Dân cắt cỏ, cả một đời cần kiệm,
Chàng nghe xong chết lịm nữa con người.
Nhưng vì yêu nên cũng ráng gượng cười,
Ra nhà bank rút tiền mua chiếc nhẫn.
Ðược vài hôm nàng lại làm mặt giận,
'Nói yêu em mà chẳng hiểu cho em
Chat ở ngoài dịch vụ hổng tự nhiên,
Anh hãy gởi ít tiền mua vi tính.'
Ðang khi yêu, chàng giống như thằng lính,
Chỉ cúi đầu nghe lịnh của quan bà.
Một ngàn đô, nghĩ lại cũng xót xa,
Nhưng thôi kệ, để vui lòng người đẹp.
Bóp của chàng cứ mỗi ngày mỗi xẹp,
Rồi một hôm người đẹp lại phán rằng,
'Từ nhà em ra ngoài phố chẳng gần
Em cần có mấy ngàn mua A-mốc.'
Say men tình, chàng trở thành thằng ngốc,
Còn bao nhiêu cũng 'ma róc' đem dâng.
Vì đã lỡ mạo danh là bác sĩ,
Có lẽ đâu nghèo hơn bác thằng Bần.
Chàng kẹt quá rút dần tiền tín dụng,
Ðể gởi về cung phụng cho người thương.
Trời xui chi cái cảnh đời ngang trái,
Chàng đi làm, nàng lại được lãnh lương.
Rồi một hôm, chàng quyết định hồi hương
Về Việt Nam thăm người tình bé nhỏ.
Tạm giã biệt với cuộc đời cắt cỏ,
Khoác vét-tông làm bác sĩ chuyên khoa.
Ðến phi trường mãi chẳng thấy nàng ra,
Chàng nôn nóng vẫy taxi đi kiếm.
Tìm đến nơi nỗi mừng vui tắt lịm,
Nàng đang ngồi âu yếm với một người.
Chàng nghẹn ngào không nói được một lời,
Khi nàng hỏi, 'Bác ơi, tìm ai đó?
Tôi với bác chưa từng gặp mặt nhau
Sao bỗng nhận là người quen vô cớ?'
Gã thanh niên bỗng chồm lên, hùng hổ
'Ông đi mau, tui xuỵt chó bây giờ. '
Chàng buồn thiu đưa cặp mắt thẫn thờ,
Ðón taxi để đi tìm khách sạn.
Trở về Mỹ sống chuỗi ngày buồn chán,
Chàng mới thề muôn kiếp hận đàn bà.
Ðôi khi ngồi nghĩ lại thấy xót xa,
Thiệt là tức, đã già còn dại gái

 


Bỗng dưng muốn khóc một mình
Trong đêm hiu quạnh tự tình với mưa
Người đi mang giấc mơ xưa
Người còn ở lại mộng vừa tỉnh say .

Mưa sao như nhớ thương ai
Giọt buồn tí tách đêm dài hắt hiu
Mưa lên đỉnh ngọn tình yêu
Mưa xuống vực nhớ trăm điều xót xa .

Mưa làm ray rứt lòng ta
Thiết tha cơn mộng đã xa thật rồi
Mưa giăng sầu kín muôn nơi
Còn đâu góc nhỏ bên đời nhớ nhau .

Hồn em biết gởi phương nao
Về chân trời cũ tím màu yêu thương
Mưa trên phố nhỏ buồn vương
Lẽ loi chiếc bóng bên đường ngẫn ngơ.

Ngọc Quyên


 

 

Publié par Mai Ling à 09:11:43 dans VĂN/THƠ | Commentaires (0) |

Vịnh Hạ Long | 09 février 2009


Để khám phá những phong cảnh mà chắc nhiều bạn chưa có dịp và chắc cũng chưa bao giờ nghĩ tới là ở ngay sứ mình có những cảnh vĩ đại tuyệt vời mà Mai Ling đã từng được chứng minh với mắt thấy tai nghe. Sau đây Mai Ling xin mời quí bạn thưởng thức những huyền bí của Chúa Trời đã ban cho loài người ngay trên đất Việt của chúng ta.
 
 
DI SẢN THẾ GIỚI




VỊNH HA LONG

     La légende raconte que: "Autrefois, dès la fondation, le pays des Viêts eut envahi par les ennemis étrangers. Pour aider les Viêts à combattre les envahisseurs, l'Empereur de Jade a envoyé le Dragon-mère et ses enfants à ce pays. Juste à son arrivée, ils avaient projeté de la bouche des milliers de perles qui se sont transformées par la suite en îles et îlots répartis partout dans la baie. Les bateaux ennemis qui, à ce moment entraient dans la baie, se cassèrent complètement. Après la victoire, le Dragon-Mère et ses enfants restèrent dans la baie. D'où les noms des sites et paysages: Ha Long (le lieu où le Dragon-Mère descend), Bái Tu Long (les petits dragons se prosternent devant leur mère), Long Vi (la queue du dragon) - archipel de Trà Cô actuel avec une dizaine de kilomètres de plages de sable fin.




    Située dans la région du Nord-Est du Vietnam, la baie d'Halong fait partie du golfe du Bac Bô, qui comprend la ville de Ha Long et le chef-lieu de Câm Pha ainsi qu'une partie du district insulaire de Vân Ðôn. Le territoire est ceint au sud-ouest par l'île de Cát Bà, à l'est par la mer et par une côte qui recouvre 120 km, entre les 106 º58' et 107 º22' méridiens à l'est et entre les 20 º45' et 20 º50' parallèles au nord.
La baie d'Halong, située dans la région du Nord-Est du Vietnam, qui fait partie des côtes de l'ouest du Golf du Bac Bô, couvre la superficie de la mer de la ville de Ha Long, du faubourg Câm Pha et une partie de l'île Vân Đôn. Au Sud-Ouest, la baie donne la vue sur l'archipel Cát Bà; son côté d'ouest est bordé par 120 km de plages situées entre 106o58' - 107o22' de longitude Est et 20o45' - 20o50 d'altitude Nord. La baie s'étend sur une superficie de 1 553 km2 avec 1969 îles et îlots dont 989 ont été nommés.
     Ces îles calcaires ou en forme des blocs de pierres se trouvent pour la plupart dans les baies de Bái Tu Long au sud-est et de Ha Long au sud-ouest. Il s'agit de la plus ancienne figure d'une évolution géologique de 250 à 280 millions d'années, celle de la transformation des plaines en mer. Les cycles d'une forte érosion littorale et éolienne du relief karstique nous ont créé la baie d'Ha Long, une baie sans pareille au monde. Des milliers d'îles de formes infiniment variées flottantes dans la mer nous dessinent l'image d'une voile bleue décorée par des émeraudes qui s'étincellent sous le soleil. Le centre de la zone des vestiges naturels de la baie d'Ha Long couvrant la baie d'Ha Long et une partie de la baie de Bái Tu Long, est constitué d'un grand nombre des îlots et grottes majestueux.
     Cette zone, reconnue comme un héritage mondial, sur une superficie de 434 km2 avec 775 îles et îlots, est encadrée dans un triangle dont le premier angle est l'île Đâu Gô (à l'ouest), le deuxième est le lac Ba Hâm (au sud) et le troisième est l'île Công Tây ( à l'est). Les zones environnantes sont les secteurs-tampon et les vestiges et sites pittoresques nationalement classé depuis 1962 par le Ministère de la Culture et de l'Information du Vietnam.
Vu de haut, la baie d'Ha Long se ressemble à un géant tableau magnifique et très vivant. Les rochers, comme des œuvres architecturales spectaculaires sont à la fois familiers et mystérieux aux touristes. En bateau dans la baie, en voyant des milliers de rochers et îlots de formes infiniment variées à la fois imposantes et onduleuses, on se sent perdu dans le monde d'un conte de fée: ici on voit la tête d'une personne regardant vers la mer (rocher Dâu Nguoi), plus au loin c'est un dragon dansant en mer (rocher Îlot de Rông); à gauche c'est un vieil homme à la canne à pêche (La Vong); à droite un voilier au plein vent (Cánh Buôm); ou encore un couple de poule et coq (Trông Mái); plus loin c'est un géant brûle-parfum au culte du Ciel et de la Terre... En plus, toutes ces sculptures de la nature changent de forme en fonction de la position de l'admirateur et du moment de la journée.




     Dans ces îles et îlots, des grottes grandioses et majestueuses telle que Dâu Gô, Sung Sôt (grotte des Surprises), Trinh Nu (la Vierge), ... nous donnent l'impression d'être au milieu d'un château de rêve. Bien longtemps avant, Nguyên Trai, le grand poète du pays a chanté la baie d'Ha Long en l'appelant "une merveille de la nature qui s'élance vers le ciel". Les touristes venant des quatre coins du monde sont tellement stupéfiants devant le grandiose et la beauté de la baie d'Ha Long qu'ils ne peuvent pas trouver suffisamment de mots pour décrire leur impression.
     La baie d'Ha Long est également un vestige historique avec la présence des monuments rappelant des moments glorieux du pays comme Van Don, un port commercial bien connu du XIIe siècle; la montagne Bai Tho; le fleuve Bach Dang, où se sont passées les deux grandes batailles des Viets contre les ennemis. Ha Long est un centre de civilisation sur le territoire du Vietnam antique avec la culture d'Ha Long dans le néolithique supérieur. En effet, on retrouve des vestiges archéologiques bien connus à Dông Mang, Xích Thô, Soi Nhu, Thoi Giêng ...
Ha Long est connu encore par sa diversité écologique avec des écosystèmes typiques telle que mangrove, coraux, de la forêt tropicale..., avec des milliers d'animaux et végétaux variés et quelques espèces rares et propres à cette région.

     Par toutes ces valeurs, la baie d'Ha Long a été reconnue comme héritage naturel mondial le 17 décembre 1994 lors de la 18e session organisée en Thaïlande du Conseil des Héritages mondiaux de l'UNESCO et comme héritage mondial en 2000 pour ses valeurs géologiques et géomorphologie. Cela atteste la valeur inestimable universellement de la baie d'Ha Long. Qui que vous soyez, jeune ou vieux, vietnamiens ou étrangers, une fois arrivés à la baie d'Ha Long, vous allez ressentir des mêmes impressions devant ces merveilles des pierres et de l'eau. Elles vous laisseront sûrement des souvenirs et moments inoubliables. Et la baie d'Halong constitue pour l'humanité un vestige précieux qui nous raconte pour toujours la légende de la mère dragon et ses enfants combattant les ennemis pour aider les Viêts.


Tổng quan


   
Sự tích vịnh Hạ Long kể rằng: Ngày xưa, khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ, vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra vô số châu ngọc và thoắt biến thành muôn ngàn đảo đá trên biển, như bức tường thành vững chắc, bất ngờ chặn bước tiến của thuyền giặc. Đoàn thuyền của giặc đang lao nhanh, bị chặn đột ngột đâm vào các đảo đá và đâm vào nhau vỡ tan tành.
     Sau khi giặc tan, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến. Vị trí Rồng Mẹ xuống là Hạ Long, Rồng Con xuống là Bái Tử Long. Đuôi đàn Rồng quẫy nước trắng xoá là Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay) thành bãi cát mịn và dài hơn chục ki lô mét.
     Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, là một phần bờ tây vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía tây giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn trong các tọa độ từ 1060 58' - 1070 22' kinh độ Đông và 200 45' - 200 50' vĩ độ bắc, với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên.
     Đảo ở Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam vịnh Bái Tử Long và vùng phía tây nam vịnh Hạ Long. Đây là hình ảnh cổ xưa nhất của địa hình có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 - 280 triệu năm, là kết quả của quá trình vận động nâng lên, hạ xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển. Quá trình Caxto bào mòn, phong hoá gần như hoàn toàn tạo ra một Hạ Long độc nhất vô nhị trên thế giới. Trong một diện tích không lớn, hàng ngàn đảo đá với muôn hình, dáng vẻ khác nhau như những viên ngọc bích long lanh được đính lên chiếc khăn voan xanh biếc của nàng thiếu nữ. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản Thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long.
     Vùng Di sản được Thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông). Vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.
Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Đó là những tác phẩm tạo hình tuyệt mỹ, tài hoa của tạo hoá, của thiên nhiên biến hàng ngàn đảo đá vô tri tĩnh lặng kia trở nên những tác phẩm điêu khắc, hội họa hoàn mỹ với muôn hình dáng vẻ yêu kiều, vừa rất quen thuộc vừa như xa lạ với con người. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khoẻ khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá nơi đây. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền - hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước - Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá - hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi - hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước - hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất - hòn Lư Hương... Tất cả đều rất thực, thực đến kinh ngạc. Những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo thời gian và góc nhìn. Tới đây ta mới nhận ra tất cả chúng không phải là những hòn đảo vô tri tĩnh lặng mà như có hồn và đều sống động.



     Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung... Đó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là "kỳ quan đất dựng giữa trời cao". Bao tao nhân mặc khách từ khắp năm châu khi đặt chân đến đây đều cảm thấy bàng hoàng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của Hạ Long, dường như họ đều cảm thấy lúng túng và bất lực bởi vốn từ hiện có vẫn chưa đủ để mô tả vẻ đẹp của Hạ Long.
      Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với những trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc Việt Nam với những địa danh nổi tiếng như Vân Đồn - nơi có thương cảng cổ sầm uất vào thế kỷ thứ 12; có núi Bài Thơ lịch sử; cách đó không xa dòng sông Bạch Đằng - là chứng tích của hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của các thế hệ ông cha chống giặc ngoại xâm. Không chỉ có vậy, Hạ Long còn là một trong những cái nôi của con người với nền Văn hoá Hạ Long huy hoàng thời Hậu kỳ đồ đá mới tại những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Đồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng...
     Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới... Với hàng ngàn loài động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng như tôm, cá, mực... Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
     Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới. Năm 2000, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ hai Di Sản thế giới bởi giá trị địa chất, địa mạo. Điều đó đã khẳng định giá trị ngoại hạng mang tính toàn cầu của vịnh Hạ Long.
     Dẫu bạn ở đâu trên thế gian này, là người da trắng hay da màu, không kể quốc tịch, ngôn ngữ, tuổi tác... khi đặt chân đến đây cũng đều có chung những cảm xúc, sự rung động của con tim trước một kỳ quan của đá và nước, và khi phải chia tay Hạ Long chắc sẽ để lại những ấn tượng khó quên... Câu chuyện huyền thoại xa xưa về đàn rồng mẹ và đàn rồng con đã phun châu nhả ngọc tạo nên hàng ngàn đảo đá ngăn bước quân thù, hôm nay vẫn đứng đó tạo nên một di sản vô giá cho nhân loại.
     Bạn đã có dịp đến với Hạ Long - Di sản có một không hai trên thế giới để được chiêm ngưỡng và khám phá những bí mật còn ẩn chứa nơi này?


---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------


Động Phong Nha
 
 

    Nhật báo Los Angeles Times số ra ngày 16.1.2009 có đưa ra 29 nơi có danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử đẹp nhất trên thế giới nên đến viếng thăm trong năm 2009 như : Yosemite National Park, Jurmala ở Latvia, Athens ở Georgia, Joggins Fossil Cliffs, Nova Scotia ở Canada, Cape Town ở South Africa, v.v. Nhưng chúng tôi đã ngạc nhiên khi thấy có một nơi ở Việt Nam được nhật báo này giới thiệu, đó là Đồng Hới !
   Đọc vào mục này, chúng tôi thấy tờ báo giới thiệu "Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng" (Phong-Nha Ke-Bang National Park) ở Quảng Bình đã được tổ chức UNESCO liệt vào loại di sản thế giới với một hệ thống hang động thiên nhiên rất kỳ diệu. Đây là một kỳ quan của thế giới nằm trên đất nước chúng ta, nhưng được rất ít người Việt hải ngoại biết đến và ghé thăm mỗi khi trở về Việt Nam.



CÁI TÊN ĐỒNG HỚI

  
   Trước khi nói về Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, chúng tôi xin nói qua về cái tên Đồng Hới mà tờ Los Angeles Times đã nói đến. Đây là một cái tên nghe rất lạ.
   Trước khi Pháp đô hộ Việt Nam, Động Hải là trung tâm của Quảng Bình và được gọi là Động Hải doanh. Động có nghĩa là sâu, hải là biển. Động Hải là biển sâu. Vì thời đó Quảng Bình được đặt dưới chế độ quân sự, nên Chưởng Cơ coi luôn việc binh lẫn việc hành chánh.
   Động Hải doanh gồm có 7 làng sau đây: Động Hải, Lệ Mỹ, Trấn Ninh (còn gọi là Phú Ninh), Tiền Thiệp, Hướng Dương, Kiên Bính, Thạch Lũy. Các làng này đều trực thuộc Phủ Quảng Ninh.
   Ngày 19.7.1885, Pháp chiếm Động Hải và đến năm 1893 Pháp đã biến Động Hải thành thành phố và lấy tên là thành phố Đồng Hới.
   Tại sao không gọi là thành phố Động Hải mà gọi là thành phố Đồng Hới ? Chữ Hới ở đây nghe giống tiếng Mường quá !
   Người Pháp không đọc chữ Động Hải được nên đổi thành "Dong" và "Hoi". Hai chữ này được người Pháp ghép lại với nhau theo kiểu tiếng Pháp thành "Donghoi". Các tài liệu của Pháp đều viết "Donghoi". Khi phiên âm ngược lại tiếng Việt, các viên chức của ta đã viết thành Đồng Hới !
   Sử liệu cũng cho biết, đa số người Động Hải đều có góc ở thôn Hới thuộc vùng Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa di cư vào. Nhưng chữ Hới khi được viết theo chữ Hán đều ghi là Hải, vì trong chữ Hán không có chữ Hới. Nhưng chữ "Hới" trong cái tên Đồng Hới không dính líu gì đến tên cái thôn góc của người di dân.



VÀI NÉT VỀ ĐỘNG PHONG NHA

     Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm trong dãy Trường Sơn, thuộc huyện Bố Trạch và huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Trước đây người ta ước lượng vùng này có diện tích 85.754ha, nay những khám phá mới cho thấy vườn này rộng đến 200.000ha. Đây là một trong hai vùng hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới với 300 hang động tuyệt đẹp và có nhiều động thực vật quí hiếm nằm trong Sách Đỏ của thế giới.
     Động Phong Nha còn được gọi là Động Tiên Sư hay Động Sài Sơn, nó được tạo thành do một con sông ngầm chảy luồn trong dãy núi đá vôi nói trên. Theo tính toán của các nhà khảo sát ngoại quốc, con sông ngầm này có thể dài đến 27km.
Mới đây, người ta khám phá ra nhánh dài nhất là một phần của con sông ngầm có tên là Nậm Aki mà sông Son là phần lộ ra mặt đất, nó chui ngầm dưới đất ở vùng núi Pu-Pha-Đam cách đó hơn 20km về phía Nam.
     Đường vào động là một khe nước cao từ 7m đến 10m và rộng từ 10m đến 15m, nước chảy trong vắt và uốn khúc quanh co.
Trước đây, các nhà khảo cứu chỉ mới đi sâu vào được khoảng 3km và phát hiện ra một dãy hang dài khoảng 2.000m, vách thẳng đứng, có 14 hang nối nhau. Hang ngoài cao 12m, các hang trong cao từ 20 đến 40m, nhưng cứ hẹp dần. Vách có nhiều nhủ đá kiểu rất lạ. Cách cửa động khoảng 350m có lỗ thông thiên, ánh mặt trời lọt qua lỗ này phản chiếu vào khe nước tạo nên những màu sắc kỳ lạ và ngoạn mục. Trong hang nghe có tiếng gió, tiếng nước chảy róc rách vào các hóc đá và những âm thang vang lên như tiếng nhạc, có khi vi vu, có khi bập bùng, làm cho cảnh tượng trong hang mang màu sắc huyền bí. Trong động có chùa Hang và bàn thờ Chăm, vách có khắc chữ và nhiều mãnh tượng.
     Hang chính dài 1.451m. Hang số 7 có một đường ngách, đi khoảng 600m thì quẹo ngang theo hướng hang chính, qua một cửa thấp, dẫn vào một con đường thật dài, hai bên có nhủ đá rất lạ. Hang 14 có đống đá vụn và hai lối đi vào các hang khác, rất đẹp nhưng rất dễ lạc đường.

 
 
 
KHẢO SÁT ĐỘNG PHONG NHA

     Người Tây phương đến thám hiểm Động Phong Nha đầu tiên có lẽ là linh mục Cadière, một nhà khảo cổ người Pháp nổi tiếng. Sau khi khảo sát, ông phát hiện dấu tích chữ Phạm của người Chàm khắc trên các vách đá. Trong một lá thư gởi cho ông Finot vào tháng 12 năm 1899, linh mục có viết: "Những gì còn lại ở đó đều rất quý báu đối với sử học. Gìn giữ nó giúp ích không ít cho khoa học".
     Tháng 4 năm 1924, một nhà thám hiểm người Anh tên là Barton đã đến Phong Nha khảo sát trong 15 ngày. Ông cho rằng Động Phong Nha không thua gì Động Padirac của Pháp hay Động Cue' vas del Drach của Tây Ban Nha.
     Năm 1990, một đoàn thám hiểm gồm một nhóm chuyên gia thuộc Hội Nghiên Cứu Hang Động Anh (British Cave Research Association - BCRA) do Tiến sĩ Howard Limbert cầm đầu, và các nhà khoa học Việt Nam thuộc Đại Học Quốc gia Hà Nội, đã bắt đầu mở các đợt khảo sát sâu rộng về Động Phong Nha. Nhóm này đã tiến sâu vào hang được 15 cây số (trước đây chỉ mới 3 cây số).
     Đây là một cuộc thám hiểm khá khó khăn và vất vã, phải có khả năng và dụng cụ chuyên môn mới thực hiện được. Thí dụ khi chống thuyền đi vào hang khoản 3 cây số, đoàn phải dừng lại vì một bức tường cao vút chận lại. Đoàn phải xử dụng thiết bị lặn đặc biệt để lặn sâu xuống và vượt qua phiá dưới bức tường đá, mới có thể đi tới cuối động và xác nhận động này dài 7.729m.
     Năm 1994, tiến sĩ Howard Limbert cho biết: "Sau hai chuyến thám hiểm trước (1990 và 1992), chúng tôi không những chỉ xác định động Phong Nha dài đến 7.729m, mà còn phát hiện thêm hàng chục hang động khác như hang Vòm dài đến 13.969m, hang Rục Cà Ròn dài 2.800m..."
Hang Vòm có Động Khô. Động Khô nằm cao hơn Động Phong Nha khoảng 200m.
Trong cuốn "Đất Trời Việt Nam", ông Thái Văn Kiểm cho biết Động Khô được tìm thấy tháng 4-1935 do một người dân địa phương phát hiện. Thời kỳ đầu mới được tìm thấy, Động Khô được người dân gọi là Động Tiên do vẻ đẹp kỳ bí của nó. Sau này khi tìm ra động Phong Nha là động nước nên người ta gọi động Tiên là Động Khô.
     Phong cảnh trong Động Khô ví như chốn bồng lai tiên cảnh: Tua tủa trong động hàng nghìn khối nhũ đá với nhiều màu sắc. Vòm động cao thoáng, nổi rõ nhiều vân trắng như vàng bạc. Những hàng cột đá màu cẩm thạch nhiều dáng vẻ diệu kỳ khiến ta ngây ngất như đang lạc vào thiên cung hay thủy cung.
Động Khô có nét đặc biệt hơn Động Phong Nha là có những phiến đá và cột đá cộng hưởng âm. Khi người ta gõ nhẹ vào thì nó sẽ phát ra những âm thanh lạ kỳ như vọng ra từ chốn sâu thẳm của lòng đất.
     Theo đoàn thám hiểm BCRA, Động Khô được hình thành cách đây khoảng hàng chục triệu năm, khi một dòng nước chảy qua đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng. Sau đó do kiến tạo địa chất, khối núi này hoặc đã được nâng lên, hoặc đã bị hạ xuống khiến các khối đá đổ sụp ngăn chặn dòng chảy làm nên Động Khô ở phía trên, còn phần có sông ngầm chảy qua tạo ra hang Động Phong Nha. Theo doàn, giữa hai Động Phong Nha và Động Khô không có sự ăn thông với nhau. Động Khô có chiều dài là 980m. Từ cửa động đi vào khoảng 400m có một vực sâu chừng 10m, và sau đó là động đá ngầm tiếp tục dài gần 500m. Hiện nay có thể đi vào khoảng 400m từ của động để quan sát. 
 
 
 

RỪNG TRÊN ĐỘNG PHONG NHA

     Trong một cuộc khảo sát, các nhà lâm nghiệp Việt Nam đã phát hiện trên nóc Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng ở độ cao khoảng 800m, có một khu rừng nguyên sinh diện tích khoảng 45.000 hecta, có nhiều loại thực vật và động vật quý, như những cây chò thật lớn, rùa vàng nặng 5 kg, vượn bạc mày, cá chép tím, v.v.
     Năm 2005, các chuyên gia của Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học và Cứu Hộ Động Vật Hoang Dã của Việt Nam và Giáo Sư V. Averyanov Leonis, chuyên gia hàng đầu về thực vật của Viện Hàn Lâm Khoa Học Nga, đã leo lên khu rừng nói trên và đã khám phá ra cả một rừng cây bách xanh trải dài và rộng gần như như vô tận. Những thân bách xanh đường kính từ 1m đến 1,5m, cao từ 20m đến 30m, cứ tựa vào nhau gần như san sát trên một diện tích khoảng 5000ha. Trung bình, các cây bách xanh ở đây có tuổi từ 500 đến 600 năm. Có những thân cây quá già đã gục ngã theo thời gian, giờ còn trơ lõi với nhưng vỏ và lá mục, nhưng chính những võ và lá mục này đã làm thức ăn nuôi sống cho thế hệ bách xanh kế tiếp.
     Giữa núi đá vôi trùng trùng điệp điệp chỉ có bách xanh mới có thể bám chắc vào đá để tồn tại qua hàng trăm năm.




ĐÁNH GIÁ CỦA ĐOÀN THÁM HIỂM

     Đoàn thám hiểm BCRA đã công bố những bức ảnh được chụp bằng phương tiện hiện đại nhất cho thấy những bí ẩn đã bị che dấu hàng triệu năm trong bóng tối của hang động. Nhưng tiến sĩ H. Limbert nói: "Đây chỉ mới là một phần rất nhỏ chân dung của Phong Nha mà thôi".
     Một cuộc hội thảo khoa học về danh lam thắng cảnh Phong Nha đã được tổ chức tại Quảng Bình vào tháng 4 năm 1997, Kết quả nghiên cứu và khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:
1. Hang nước dài nhất (Hang Vòm-28km)
2. Cửa hang cao và rộng nhất
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất
4. Hồ ngầm đẹp nhất
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất
6. Dòng sông ngầm dài nhất (13.969m)
7. Hang khô rộng và đẹp nhất.
     Ngày 5.7.2003, Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới (UNESCO World Heritage Site). Chương trình này được thành lập do "Hiệp Định Liên Quan đến Bảo Vệ Di Sản Văn Hoá và Thiên Nhiên" và được chấp thuận tại Hội Nghị UNESCO ngày 16.11.1972.
     Quỹ Bảo Tồn Thiên Nhiên Thế Giới (WWF) công nhận Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng là vườn quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất hành tinh.
Đến năm 2007, đoàn thám hiểm đã công bố cho thế giới biết những kết quả hoàn toàn khác xa 18 năm trước, khi chuyến thám hiểm đầu tiên được tiến hiện: Có khoảng 300 hang động lớn nhỏ tồn tại trong khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng với những giá trị hàng đầu thế giới: (1) hệ thống sông ngầm dài nhất; (2) cửa hang cao và rộng nhất; (3) bờ cát rộng và đẹp nhất; và (4) thạch nhũ đẹp nhất.



MỘT CÁI NHÌN VỀ PHONG NHA

     Nhưng tất cả đều chưa tạo được cho Phong Nha tầm vóc của một trung tâm du lịch quốc tế. Sau đây là một số đoạn nhân xét được trích trong bài "Phong Nha: Đánh thức vẫn chưa dậy!" được đăng trên VietnamNet và sinhhocvietnam.com:
     "Đang thăm động, tôi chợt bắt gặp vẻ mặt ''day dứt'' của anh bạn đi cùng, tôi băn khoăn: "Không hiểu ông này cứ lao vào những ngách đá tối tối để tìm cái gì". Chết thật, thì ra trong hang động không hề có một... nhà vệ sinh nào. Vấn đề vô cùng tế nhị nhưng lại vô cùng thiết yếu, nhất là để đảm bảo vệ sinh cho Phong Nha.
     "Để thăm hết động nước bằng đường bộ phải mất khoảng 45 phút, động khô phải leo hơn 400 bậc xi măng và cũng phải mất chừng ấy thời gian nữa mới xem hết. Ở đây chỉ có 1 nhà vệ sinh ở cửa Động Khô và 1 nhà vệ sinh ở chân Động Khô, gần cửa Động Nước. Tuy nhiên hành trình của khách lại đi thẳng từ bến thuyền xuất phát (Trung tâm xã Sơn Trạch) vào Động Nước hết khoảng hơn 1 giờ rồi mới ra bến thuyền đến để lên Động Khô. Rủi thay có vị khách nào... yếu thận chỉ có cách tìm cái cột thạch nhũ nào ''khuất khuất''.
     "Thăm xong Động Tiên Sơn (Động khô) trở ra, mới 3 giờ chiều, thấy những người bán hàng đã lục đục thu dọn ''đồ nghề''. Hàng hoá cũng chỉ mấy lon nước ngọt, vài quả trứng luộc, mấy quả xoài, chai bia. ''Nếu là ngày lễ, Tết, khách đông thì mới bán muộn, còn bình thường thì họ chỉ dọn hàng từ 9 giờ sáng tới 3 giờ chiều'', Thiết nói.
     "Lúc đi xuống bến thuyền chúng tôi gặp 1 thằng nhóc vác bao tải phăm phăm đi lên Động Khô, hỏi xem nó mang con thú hay củ gì đi bán thì nó nói ''Đi nhặt loong bia''. "Kiếm được bao nhiêu tiền?" - "Một ngày được khoảng 3-4 ngàn". "Thế thôi à?" Nó nói ngay: ''Cho cháu xin 1 ngàn"



"Theo Ban Quản Lý Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, họ đang tập trung quy hoạch lại bãi bến thuyền, bãi xe, nhà đón tiếp. Ông Đặng Đông Hà cũng cho biết, hiện Phong Nha mới khai thác du lịch được một phần nhỏ là Động Khô và Động Nước, còn mảng du lịch rất lớn là du lịch sinh thái thì vẫn như nàng công chúa ngủ yên hàng ngàn năm chưa được ai đánh thức. Điều đó cũng có thể lý giải bởi Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng vẫn thuộc sự quản lý của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chứ không thuộc ngành du lịch.
"Phong Nha quý hơn hẳn các điểm du lịch khác ở Việt Nam là động nằm trong khu rừng nguyên sinh Kẻ Bàng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi. Cư dân nơi đây vẫn nghèo khó và lạc hậu, trẻ con vẫn hồn nhiên cởi truồng chạy theo khách lạ. Những cư dân bản địa nơi đây mang một phong cách rất riêng. Họ cư xử thân thiện và tình cảm mang tính cách của người nông dân thuần khiết hơn là nhìn nhận du khách như là một cơ hội để tìm kiếm nguồn tài chính. Điều này càng đòi hỏi Phong Nha phải biết giữ gìn để thêm hấp dẫn khách du lịch.
"Hệ thống hang động trong khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng chính là nơi cư trú của các tộc người thiểu số từ lâu đời với nhóm người Rục, ARem, Mã Liềng thuộc tộc người Chứt. Những tộc người này vẫn còn giữ nguyên vẹn các lễ hội dân tộc: lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới, lễ rằm tháng ba... Các điệu hát sắc bùa, hát dân ca, các tập tục văn hoá phong phú và lạ.
"Mỗi tộc người này có một nền văn hoá riêng rất độc đáo và quý giá có thể khai thác phục vụ du lịch. Như vậy, tại sao Quảng Bình chưa tổ chức thêm các nhà trưng bày các mẫu vật quý về rừng nguyên sinh Kẻ Bàng cũng như giới thiệu về các dân tộc nơi đây. Đặc biệt là những tư liệu về người Rục (người Arem) - một tộc người thiểu số còn giữ lại rất nhiều những đặc điểm sinh hoạt của người nguyên thuỷ mà chỉ còn duy nhất ở Phong Nha - Kẻ Bàng...
"Ông Phan Lâm Phương- Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình trong hội nghị thu hút đầu tư của tỉnh đã khẳng định với VietNamNet, thời gian tới tỉnh này sẽ chú trọng phát triển mạnh du lịch, dịch vụ, tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá di sản thiên thiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cũng như tiếp tục đầu tư hạ tầng các khu du lịch trọng điểm.
"Về Hà Nội, hay tin Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Chính Phủ Đức vừa cam kết tài trợ trên 13 triệu USD vốn ODA cho Dự án Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng, hy vọng rằng người dân nơi đây sẽ không chỉ được biết đến số tiền trên qua báo chí.
"Phong Nha vẫn được ví như 1 kho báu để quên trong rừng. Phong Nha ơi, bao giờ mới mở cửa ra? Công bằng mà nói, Quảng Bình chưa tạo được trước mắt du khách một Phong Nha tuyệt đẹp và vô cùng quý giá như chính cái danh hiệu của nó: Di sản."
(Hết trích dẫn).
Chúng tôi nghĩ rằng UBND tỉnh Quảng Bình nên cử một phái đoàn đi quan sát một số trung tâm du lịch thế giới như Disneyland ở Orange County, California,chẳng hạn, để xem họ tổ chức như thế nào, rồi bắt chước mà làm như thế.

Lữ Giang


13/03/2009

 

Publié par Mai Ling à 09:01:56 dans DI SẢN THẾ GIỚI | Commentaires (0) |

Chap. IV | 08 février 2009

IV
1950-1952

Faiblesse

     La cathédrale d'Hanoi était tout près de notre maison. Je m'y rendais souvent quand je ne savais pas où aller, pas tellement pour prier, car je ne savais pas prier, mais pour me recueillir dans le calme sur l'un des bancs alignés devant l'autel, tout en observant toutes les choses qui s'y trouvaient : le tabernacle avec sa veilleuse rouge, les statues, effigies, vitraux.... J'allais aussi de temps en temps dans le parc du presbytère cueillir les fruits dans les buissons quand je n'avais pas envie d'assister aux offices qui sont parfois trop longs, avec d'interminables sermons destinés plutôt aux grandes personnes. Le soir, sur le parvis, quand il faisait beau et chaud, sous le clair de lune, les fidèles se rassemblaient devant la porte de l'édifice pour prier ou pour chuchoter. Tandis que les enfants se livraient à toutes sortes de jeux : à cache-cache ou aux osselets avec des gravillons. En regardant les filles jouer, j'avais bien envie de participer aussi à leur jeu, mais je n'osais pas m'approcher, pensant qu'elles ne voudraient pas de moi. J'avais l'impression de ne pas faire partie de leur monde, peut-être parce que j'étais sale ou mal habillée.

La Cathédrale d'Hanoi

35

     Un soir de pleine lune, mon père nous emmena dans un petit restaurant à l'enseigne « 2 cua » (Aux 2 crabes). Ce devait être pour célébrer la fête de la mi-automne (trung thu), ou parce qu'il avait gagné au mahjong . Ce petit restaurant situé dans une rue près de la cathédrale est connu de tous ceux qui ont vécu à Hanoi avant 1955. Il est toujours bondé, pourtant on n'y servait que des pâtés impériaux au crabe, les meilleurs peut-être. J'y revenais de temps en temps en acheter pour ma belle-mère. Rien que de penser à la bonne odeur et à la saveur de ces délicieux pâtés, j'en avais l'eau à la bouche. Aujourd'hui, lorsqu'on me demande où j'ai appris à faire des pâtés aussi bons, je ne peux m'empêcher de penser à ce petit restaurant « 2 Cua ». Il y avait aussi tout autour de la place des boutiques qui vendaient de tout : boissons, fruits, soupes, grillades, etc. Ça sentait bon, mais faute d'argent, comme d'habitude, je leur tournais le dos.
Pourtant, un soir, il y eut une « exception ». J'ai honte de parler de cet incident, mais qui, malgré tout, fait partie de ma misérable enfance.
     Dans une ruelle tout près de notre maison, il y avait un marchand qui vendait du phở le meilleur. Tous ceux qui ont vécu à Hanoi le connaissent très bien. Il est resté cependant un modeste marchand. Aidé de sa femme et de son fils, il servait en journée continue dans sa baraque à la toiture délabrée partiellement arrachée par le vent qui laissait traverser quelques rayons de soleil servant d'éclairage. Ma belle-mère m'y envoyait souvent en acheter pour elle et ses deux enfants. Un soir, je lui en apportai un grand bol tout chaud, tout parfumé, et il me fallait attendre qu'elle finisse pour ramener le bol non lavé au marchand. Sur le trajet, je vis qu'il restait environ une cuillerée de bouillon au fond du bol. Poussée par une faiblesse bien humaine, je bus tout ce qu'il restait. Une voisine me surprit en train de commettre ce méfait, fit le rapport à ma tante qui habitait en face de la fontaine où je venais tous les jours pomper l'eau. Ma tante, ne supportant pas le geste déshonorant de sa nièce, me fit venir le lendemain, me paya un bol de soupe de vermicelle au crabe bún riêu. Tristement, elle me regarda manger.

36

   C'est en mangeant cette soupe que je vis pour la première fois un beau jeune homme dévaler l'escalier de l'étage du dessus. Il était à peine plus âgé que moi, mais avait déjà l'allure d'un garçon bien bâti, issu d'une famille aisée, mûr, intelligent, vif et propre. C'était mon cousin... Nous le retrouverons plus tard.

   De la première fratrie, il ne restait dans la maison que ma dixième soeur Vân, surnommée « Mười voi » parce qu'elle est la dixième et grosse comme un éléphant, moi, et ma huitième soeur, celle qui m'apprenait à tricoter et que je ne voyais presque pas, car elle travaillait comme tricoteuse et vendeuse dans une mercerie de la rue Hàng Dào, puis passait le reste de son temps à flirter. De cette dernière, je ne me souviens que de son mariage.
   Du fait qu'elle était l'une des plus belles et la moins sage de la famille, on avait dû la marier au premier homme qui l'avait demandée en mariage pour lui éviter les fâcheuses conséquences de ses flirts. Ce jour-là fut l'un des plus drôles souvenirs de mon enfance.
Dans ma belle robe toute neuve, j'étais à la table d'honneur avec les mariés et les membres de la famille. Mes épaules dépassaient à peine la table. On dégustait de bons plats et un grand gâteau attendait pour le dessert. On buvait, on chantait, c'était euphorique !

37

   Comme d'habitude, personne ne faisait attention à moi, on remplissait ma coupe - comme à tout le monde - de cette délicieuse boisson. J'étais en train d'écouter le jeune marié chanter tout en dégustant cette boisson sucrée et pétillante... Peu à peu, ma tête commença à me peser, à tourner, puis je vis aussi les invités qui se mirent à tourner autour de moi. Je somnolais, je ne sentais plus mon corps... j'étais légère, légère... je m'envolais... je flottais... je me sentais soulevée de mon siège. Ce déséquilibre me fit tomber comme une masse sous la table. Puis plus rien ! Lorsque je me réveillai, tout était déjà fini, on avait dû me laisser faire le tour du cadran dans les bras de Morphée, sachant que je ne pourrais travailler dans un tel état...
   Vân, à peine âgée d'un an de plus que moi, n'était pas très gâtée par la nature. La famine de 1945 lui avait laissé bien des séquelles. En période d'abondance, elle était gourmande et mangeait tout le temps. Elle était peut-être un peu jalouse de ma condition physique. J'étais petite, mais bien constituée, vive et en bonne santé, tandis qu'elle, faible et maladroite, était tout le temps malade, affectée par toutes sortes de maux, hémorroïdes, ulcère à l'estomac... Son strabisme et son sourire déformé par un mauvais courant d'air atteignant le nerf facial la rendaient encore plus antipathique. Elle avait en plus le syndrome des poules que nous, les Asiatiques, nous appelons « quáng gà », car à partir de sept heures du soir, elle ne voyait plus rien... ! De ce fait, elle bénéficiait d'un régime de faveur exceptionnel. Les corvées ménagères lui étaient épargnées. Elle ne faisait rien, elle lanternait ou restait toujours près de ma belle-mère pour lui faire le rapport de ce que je faisais ou ne faisais pas. Elle me détestait et me considérait aussi comme une domestique, mais vu son état, je ne lui en voulais pas. Comment peut-on en vouloir à une fille qui porte toute la misère du monde sur elle ?

38

     Il y avait aussi ma grand-mère paternelle, une petite vieille borgne, rabougrie, aigrie, sévère et austère. Elle avait dû manger de la vache enragée dans sa jeunesse pour être aussi méchante. Elle ne m'aimait pas et prenait toujours parti pour ma belle-mère afin d'obtenir des faveurs pécuniaires. Pour les mêmes raisons, elle cajolait ses nouveaux petits-enfants. Je fus pourtant la dernière à rester près de son mari avant sa mort. Il lui fallait pourtant trouver un prétexte pour exercer son autorité sur moi, et tout ce qu'elle avait trouvé était de m'obliger à me lever tôt pour aller à la messe.
D'habitude, je me levais tous les matins avant tout le monde, mais ce matin-là, j'ai dû oublier de me réveiller. J'étais encore somnolente quand la vision de sa silhouette tout près de moi me réveilla complètement. Elle me fixa de son oeil valide avec le martinet à la main. Me laisser fouetter ? Jamais. Aussitôt je me levai, me lavai, revêtis mon unique robe pour me rendre à l'église. C'était à vous dégoûter de la messe.
     Quant à mon frère Loc, surnommé « Chin Lọ » parce qu'il est le neuvième et toujours barbouillé, il est parti rejoindre ma soeur aînée à Saigon. Les autres, mariés, sont partis faire leur vie.

     Depuis que Dieu a ôté toute ma conscience, jai vécu nomalement comme un enfant, mais j'ai cessé de désirer, de vouloir, comme je le faisais jadis. J'étais vouée à exécuter, à servir. Je faisais tout par instinct, sans jamais me plaindre ni même poser de questions : comment ? Pourquoi ?
J'accomplissais les corvées les plus difficiles, avec enthousiasme et amour sans jamais avoir le sentiment d'être contrainte à faire quelque chose, bien au contraire, je faisais tout comme si j'étais responsable du bien-être de tout le monde. La rancune, la haine, la colère, je ne les connaissais pas. C'est pour cette raison que ma belle-mère ne me grondait jamais, car à travers son regard hautain, je devinais déjà ce qu'elle voulait me dire et ce qu'elle voulait que je fasse. C'est possible aussi qu'il y ait quelque chose en moi qui lui interdisait de le faire. Égard ou indifférence ?

39

     À l'âge de douze ans, pas plus haute que trois pommes, je devais déjà accomplir toutes les tâches de la maison avec la domestique. La pauvre, avec ses yeux voilés - l'un par une grosse cataracte, l'autre par une conjonctivite purulente -, elle ne voyait pas clair. J'ai dû l'accompagner une fois à l'hôpital pour la faire soigner, mais malheureusement, faute d'argent pour acheter les médicaments le médecin n'a pas pu la guérir. Ma belle-mère était maligne, elle n'employait que des domestiques de cette catégorie : infirmes, laides, afin d'être sûre que son mari ne lui ferait pas d'infidélité...

     Tous les matins, après la messe, je commençais par faire le marché, puis aller chercher de l'eau. Il y avait deux points d'eau. L'eau pour le bain et le lavage était à tirer du puits dans le domaine de la riche propriétaire. L'eau potable était à tirer d'un gros robinet d'une fontaine située à environ cinq cents mètres de chez nous, juste en face de la maison de ma tante. La domestique était à la fois petite et boiteuse. Pour elle, ramener depuis la fontaine, deux bidons de vingt litres suspendus par des cordages à une palanche sur son épaule était un véritable calvaire. Il fallait voir ce petit bout de femme porter deux lourds bidons, clopin-clopant... en éclaboussant l'eau partout sur le trajet derrière elle. Forcément à l'arrivée, ces bidons avaient perdu la moitié de leur contenu. Par compassion, je m'étais chargée d'aller chercher cette eau à sa place. Comme j'étais aussi petite qu'elle, il n'était pas nécessaire de raccourcir les cordages, cependant c'était toujours deux bidons de vingt litres à porter ; image que l'on ne devrait plus voir dans une ville aussi moderne qu'Hanoi, encore moins voir une petite fille attelée à cette tâche.

40

     Du fait que j'habitais à proximité d'un bidonville, personne ne pouvait soupçonner que j'étais la fille du proviseur d'une grande école... Pour m'entraîner à cette corvée, au début, je ne remplissais que la moitié de chaque bidon, puis j'augmentais le niveau au fur et à mesure jusqu'à ce que j'arrive à porter les deux bidons pleins. À l'arrivée, la domestique m'aidait à soulever les bidons et à les transvaser dans les tonneaux qui étaient si hauts que je devais me mettre sur la pointe des pieds pour voir le fond.    
     Comme je devais faire au moins une pause durant le trajet, je profitais de ce laps de temps pour m'arrêter devant une école de dactylographie. Sous l'enseigne représentant la silhouette d'une femme en train de taper à la machine, j'observais ces jeunes filles qui tapaient élégamment sur leur machine en émettant des bruits réguliers de frappe en pensant : Mon Dieu, que c'est beau ! Si seulement je pouvais être un jour pareille à ces secrétaires...

     Après la corvée d'eau, je faisais la lessive avec la domestique, puis la cuisine. Par souci d'éco-nomie, j'apprenais à cuire le riz avec l'écorce du paddy comme combustible et quelques brindilles. Ma belle-mère faisait aussi la cuisine, mais seulement pour les grandes occasions... Et lorsque tout le monde se mettait à manger, je me rendais à l'école. Je n'y allais que l'après-midi et je ne sais pas comment j'ai pu savoir lire et écrire, car personne ne se souciait de mes études. J'ai été renvoyée de différentes écoles privées. D'abord de chez les soeurs, puis de chez les bonzes, car je n'arrivais pas à suivre le niveau. Grâce au statut de mon père, je fus finalement admise à l'école publique, mais placée au fond de la classe comme une laissée pour compte - que Ling suive les cours ou pas, cela n'a pas d'importance - c'est la fille du proviseur...

41

     J'étais dans une classe correspondant à mon âge, mais pas à ma capacité. J'aurais dû être en cours élémentaire et on me mettait dans la classe de sixième. Je voyais bien le maître faire des courbes, des schémas, des chiffres au tableau. Pour moi, c'était du chinois. Je commençais tout juste à savoir lire et écrire, et déjà, il fallait faire des dictées, des calculs... Je n'arrivais pas à suivre. De plus, à la maison, personne ne m'aidait, et j'avais d'autres choses à faire plutôt que de faire mes devoirs.
     J'avais parfois peur d'aller à l'école. Je n'ai jamais su faire des calculs d'arithmétique. J'apprenais les tables de multiplication, les poèmes et l'histoire/géographie par coeur sans rien comprendre. Quant aux mathématiques et aux rédactions, c'est nul, zéro partout. Mes feuilles de devoirs sont rendues blanches la plupart du temps... Ma classe comptait soixante-douze élèves, et j'étais toujours classée soixante-dix ou soixante et onzième. Celle qui était classée soixante-douzième, je ne la connaissais pas, mais elle devait être stupide, car il n'y avait pas plus nulle que moi.
     Au premier rang, il y avait une fille qui s'appelait Cuc. Je me rappelle encore bien sa tête. Elle était toujours première ou deuxième au classement mensuel. Une fille calme et réservée, je voulais me rapprocher d'elle, mais je n'osais pas, car elle n'était pas bavarde, et je ne savais pas quoi lui dire. Entre elle et moi, c'était le jour et la nuit, mais je l'admirais. Étant nulle dans toutes les matières, je me sentais différente et mise à l'écart des autres élèves. À la fin de l'année scolaire, les autres recevaient des livres et des cahiers en récompense ; moi, c'était mon père qui me les fournissait.

42

     Je ne comprenais pas non plus pourquoi les autres étaient sélectionnées pour danser sur scène à la fête de fin d'année, et pas moi. Aucune fille ne voulait de moi, je n'avais pas d'amies. Peut-être parce que j'étais trop mal habillée ou parce que je ne possédais pas d'argent pour me payer un goûter ?
     De ce fait, aller à l'école c'était du temps perdu. Je préférais aller dans les salles de cinéma, admirer les portraits des vedettes affichés dans le hall, et regarder les photos des films de la semaine. Je connaissais par coeur les noms de presque toutes les stars de cinéma de l'époque, je pouvais mettre un nom sur chaque portrait. Pourtant, ce sont des noms étrangers très compliqués : Grace Kelly, Gary Cooper, Clark Gable, Gina Lollobrigida, Sophia Loren, Lana Turner, Robert Taylor, Élizabeth Taylor, Jean Marais, Jean Gabin, Yvonne Printemps... et j'en passe, sans n'avoir jamais vu un seul de leurs films. Sauf une fois, j'étais chez mon frère, celui qui fut traité autrefois de tous les noms par sa femme en accouchant sa fille aînée. Il était dessinateur et projectionniste pour une salle de cinéma. Sa demeure se trouvait juste derrière la salle. Ainsi, je pus voir le premier film qu'il projeta sur un grand écran spécialement pour moi. Dans la grande salle, j'étais l'unique spectatrice. Je me rappelle encore ce film musical avec Gene Kelly. Plus tard, j'irai dans les ciné-clubs voir gratuitement Tarzan, Zorro et les westerns avec John Wayne. C'était merveilleux !

43

     Il y avait aussi sur la place, devant le parvis de la cathédrale Notre-Dame, un triporteur qui faisait des projections avec son matériel archaïque conçu à partir d'un grand caisson en bois fixé sur les roues, dans lequel était enfermé un projecteur. En échange d'une petite pièce de monnaie, le machiniste tournait la manivelle. Ainsi, en position accroupie, l'oeil collé à un petit trou, le spectateur pouvait regarder des petits films burlesques muets : Charlot, Laurel et Hardy, Les Pieds Nickelés, et les dessins animés : Félix le chat, Popeye, etc. Le triporteur, me voyant tourner autour de sa machine avec une envie manifeste d'assouvir ma curiosité, me laissa regarder gratuitement quelques minutes. Malheu-reusement, je n'avais pas d'argent pour payer la suite, mais au moins, j'avais appris quelque chose. Parfois, au retour de l'école, il ne restait pratiquement plus rien à manger pour moi. Je me contentais alors d'avaler le gratin de riz dur et sec, le fond de la marmite, avec du brocoli suri « dưa chua » trempé dans du nước mắm. Avec un tel régime, il est à se demander comment j'ai pu rester en bonne santé jusqu'à ce jour.
     Je crois que ma santé et ma survie, je les dois d'abord à Dieu, puis aux déchets de la décoction que ma belle-mère faisait avec un mélange composé d'herbes, racines, tubercules, graines, prescrit par un médecin chinois. Elle buvait ce liquide noir, une ou deux fois par semaine pour se maintenir jeune et en forme. Comme j'étais chargée de la corvée de vaisselle, et pour ne pas les jeter, je mangeais tout ce qui restait de cette décoction. Ce n'était pourtant pas très bon... C'était même amer. J'ignore les raisons qui me poussaient à manger ces déchets, mais en le faisant, inconsciemment, je me constituais une bonne réserve pour mon capital santé, ce qui explique peut-être ma force et ma résistance. Actuellement, je peux travailler, veiller ou marcher une journée entière ; je peux avoir des cernes sous les yeux, des callosités aux pieds, mais la fatigue, je ne la connais pas... ou pas encore.

44

      Pour me rendre à l'école, je passais devant le lac Hô Hoàn Kiêm : Lac de la Restitution de l'Épée. J'aimais particulièrement ce site en plein coeur d'Hanoi, avec la pagode Ngoc Son sur un îlot relié à la rive par un petit pont en bois peint en rouge. En passant devant ce lac, j'admirais le superbe paysage en regardant discrètement les amoureux qui se tenaient par la main ou les épaules sur des bancs, ou d'autres assis l'un contre l'autre sous les flamboyants aux mille fleurs écarlates.Au milieu du lac se dresse modestement un édifice appelé de nos jours Tháp Rùa : Tour de la Tortue. La légende raconte que ce monument fut dédié à un roi sous le règne des Lê. Il y a plusieurs versions, mais la plus connue est celle du roi Lê Thai Tô qui trouva miraculeusement une épée avec laquelle il gagna toutes les batailles. Une fois la paix revenue, en se promenant un jour dans une barque sur le lac, le roi vit une tortue géante nageant dans sa direction, il la pointa de son épée, la tortue la saisit et disparut au fond dulac. D'où le nom « Restitution de l'Épée ».
En passant devant ce lac, j'admirais le superbe paysage en regardant discrètement les amoureux qui se tenaient par la main ou les épaules sur des bancs, ou d'autres assis l'un contre l'autre sous les flamboyants aux mille fleurs écarlates. À certaines heures de la journée, lorsque le paysage multicolore se reflète sur la surface de l'eau, sous les rayons de soleil, ce lac scintillant, vibrant, offre à nos yeux une vision presque irréelle, féerique, romantique.
   

45

     Au retour de l'école ou du vagabondage, après avoir avalé quelques bouchées de riz, j'entamais la corvée du bois. Revêtue de mon caleçon sale et mon corsage délavé (difficile de deviner sa couleur d'origine), à côté d'un tas de bûches, avec une machette, je fendais ces bûches tout en regardant ma voisine jouer avec les enfants du voisinage. C'est joli de la voir sauter à la corde avec sa robe. Ça montait, ça descendait, ça volait dans tous les sens. Et quand elle tournait, on voyait sous sa robe déployée comme un parapluie ouvert, ses jolies jambes roses et un petit bout de son slip blanc. Moi je n'en avais pas... J'avais bien envie de jouer avec elle quand elle m'invitait à participer à ses jeux, mais j'avais trop à faire car après la corvée du bois, je devais encore m'occuper de mon demi-frère, le promener en le portant sur la hanche. C'est seulement lorsqu'il s'endormait en tétant les seins de sa mère que je pouvais jouer avec elle à la marelle, à la corde et à d'autres jeux en chantant des petites chansons françaises. Il y avait une ritournelle qui faisait partie de nos jeux que je connaissais par coeur. Pour démarrer un jeu, afin de savoir qui va commencer la partie, on pointe l'index sur chaque participant formant une ronde en chantant : Plouf ! Un petit poisson dans l'eau fait plouf... patapouf... Celle sur qui tombait le dernier mot, commençait la partie.
     Cette voisine m'apprenait aussi quelques mots français : papa, maman, monsieur, madame, merci, bonjour, etc. Je chantais et récitais tout ce qu'elle m'apprenait comme un perroquet, sans rien comprendre et ce fut bien plus tard que j'en saisis le sens. Plus tard dans la nuit, lorsqu'il faisait trop chaud pour dormir, j'allais voir les jolies dames danser dans un dancing près de notre maison.

46

     L'entrée de ce dancing était fermée par un rideau rouge laissant un espace d'une trentaine de centimètres au-dessus du sol. Couchée à plat ventre sur la dernière marche de l'entrée, les jambes repliées, les pieds en l'air, la tête à ras du sol sur les bras croisés, je regardais par le bas du rideau les belles dames portant des sandalettes aux talons pointus, danser dans les bras des messieurs en suivant le rythme mélodieux de la musique. Je les admirais en rêvant : Que c'est beau, c'est fantastique ! J'aimerais pouvoir danser un jour comme ces belles dames...
     Quand tout était fini, je retournais à la maison où tout le monde dormait déjà. Mon père, ma belle-mère, ses enfants, ma grand-mère, ma soeur, dormaient à l'étage sous les moustiquaires, dans des lits en bois recouverts de nattes. Les autres, cousins, cousines dormaient dans les lits au rez-de-chaussée et moi... sur le sol, dans ma souricière sous l'escalier.

----------- à demain 2/11 - Chap V

Publié par Mai Ling à 09:23:13 dans ♣ Chapitre IV | Commentaires (0) |

Commentaire | 02 février 2009

 

 

 

 
Commentaires des lecteurs

Henri FRANCQ - Professeur d'histoire et géographie au Vietnam (1970-1974)
     Voici un livre comme on n'a guère l'occasion d'en lire.
Mai Ling, petite fille du Nord Viêt Nam, se trouve plongée dès la petite enfance dans l'histoire mouvementée de son pays : occupation étrangère, révolution, famine, troubles de la guerre civile, vraiment de quoi tremper le caractère d'une fillette. Et elle va en avoir besoin, car sa vie est un vrai roman, et pas un roman à l'eau de rose...
     Réfugiée dans le Sud avec sa famille, encore adolescente elle est envoyée en France où c'est désormais une vie d'exilée qui l'attend. C'est alors qu'il lui faut se reconstruire un pays, une famille, une situation. Fiancée, épouse, mère de famille, amante, elle doit lutter sans cesse ni relâche contre une accumulation, une avalanche de coups du sort, mais aussi de trahisons et d'avaries de toutes sortes, auxquels elle fait face, avec la gentillesse, la naïveté bienveillante d'une personne qui pense que ses semblables lui ressemblent. Mai Ling nous raconte cette errance tant sentimentale, familiale, que professionnelle avec une sincérité étonnante chez une asiatique, portée habituellement, par sa tradition, à taire ce qu'il y a de plus intime. Eternelle jeune femme, telle une petite souris trottant de ci de là, d'un bord à l'autre, d'un obstacle à l'autre, elle franchit ou contourne les obstacles, sans jamais se décourager. Comment expliquer qu'elle ait pu s'en sortir, sinon indemne, du moins toujours confiante en la vie, si ce n'est parce qu'elle est habitée depuis son enfance par une foi profonde en Dieu, d'où elle puise un instinct de survie inébranlable. Et cette foi aussi en ce "sixième sens", qui lui permet sans cesse de rebondir après chaque avatar, la vie étant pour elle comme la marche sous le fléau du balancier que petite fille elle savait manœuvrer, ce fléau dont l'effet de ressort permet aux femmes si frêles de son pays de progresser avec des charges démesurées.
     L'histoire de Mai Ling, une belle leçon d'espérance, de courage et de foi.


Jean-Marie PELLERIN
- Aulnay-sous-bois -
fnac.com ♥♥♥♥♥
Un récit spontané et touchant.
     C'est le récit d'une vie mouvementée, partagée entre le Viêt-Nam colonial, le Viêt-Nam sous les bombes, l'arrivée en France et les situations difficiles, parfois dramatiques, qu'y rencontrera la "Petite Souris". Elle fait toujours face aux situations les plus injustes pour elle. Elle agit naturellement et spontanément, pensant toujours qu'en face d'elle se trouve un être humain aussi généreux et sincère ; certains, certaines, profiteront sournoisement ou directement de sa gentillesse pour la spolier ou l'humilier. Elle tourne à chaque fois la page et continue sa route, avec vaillance. Bon nombre de lectrices et de lecteurs pourront se dire, en terminant le livre, que leur vie était, est ou sera sans doute, par comparaison, un long fleuve tranquille.

Madeleine GAUTIER
Rédactrice de la revue POLITIQUE magazine - Paris
     Pour son premier roman Le sixième sens, l'auteur Mai Ling déploie un talent prometteur. Son ouvrage qui refuse de s'éclipser en est à sa deuxième édition.
Son prénom Mai Ling résonne comme le cristal et sa vie ressemble à une herbe folle et fragile soufflée par le vent de la destinée. Dans un style sans fioriture, l'auteur nous livre les secrets les plus intimes qui ont tissé sa vie. Mariée pour se libérer... Puis, privée de ses trois enfants, elle devra affronter les affres d'une existence qu'elle subit plus qu'elle ne vit. L'expérience de l'amour comme de l'amitié lui laissera le goût amer de la trahison. Dépouillée de tout et pourtant si pleine du désir d'aimer et d'être aimée Mai Ling puisera dans le « Sixième Sens » les raisons de survivre. Il sera l'oasis dont elle s'abreuvera pour se régénérer... Dans cette quête effrénée du bonheur, le repos lui sera rarement accordé. Trouvera-t-elle la sérénité ? De souffrance en errance, Mai Ling du fond de sa détresse, guidée par une foi sans faille, finira par trouver cette petite lumière appelée espoir. L'auteur vient d'un passé violent que d'aucuns auraient, à sa place, effacé. Elle, a choisi de le raviver. À travers son regard, c'est aussi tout un pan d'une société vietnamienne qui s'offre aux couleurs de ses traditions, de ses croyances, prises dans les convulsions d'une guerre. Ce roman, émouvant par sa force, relate destin sans fard qui nous rappelle combien la vie, plus que la mort, est effrayante.


Christian MENARD - Charenton,
fnac.com ♥♥♥♥♥
     Une grande recherche de qualité dans ce récit époustouflant Voici un témoignage si fort, à la limite, si incroyable, que cette lecture emplis tous les interstices de ma vie. A chaque instant, il faut se dire, qu'il n'est pas question d'une fiction mais bien d'une dure réalité.

VAN Duc Tri - Créteil
     J'ai eu l'occasion de lire ton livre « Le Sixième Sens de la Petite Souris » édition 24.9.2008, pour mieux te connaître. Je l'ai dévoré en 3 jours avec beaucoup d'intérêt et d'émotion. Je ne vais pas en faire une critique littéraire ni un jugement moral. Je voudrais seulement te dire qu'une femme qui a traversé toutes ces épreuves et qui a su conserver son humanité et sa joie de vivre mérite le respect...


Nicole MAINDRAULT - Strasbourg
     J'ai commencé à lire le 6ème sens de la petite souris et c'est très intéressant ! Je vais l'emporter dans le train entre Paris et Strasbourg et tu vas donc me tenir compagnie pour ce voyage ...
     Je suis contente d'avoir fait la connaissance de ce livre qui me semble passionnant.


Mộng Thu - Paris
     C'est tellement bien écrit, avec une écriture simple, divinement bien écrit avec son coeur, avec sa mémoire étonnante et bien vivante des faits marqués très forts par le destin... que je n'osais faire le moindre commentaire. Il est vrai que les mots me manquent...


VOVAN - Maisons Alfort
     Ton livre et surtout ta jeunesse malheureuse m'ont absolument plu. Cette souffrance du passé t'a forgée heureusement une solide connaissance de la vie sur cette Terre où la méchanceté est chose courante. Maintenant tu es déjà presque au seuil d'une vie Eternelle, garde la dignité et marche la tête haute.


Robert Sĩ - Briis sous Forges -fnac.com ♥♥♥♥♥
     Mai Ling, l'auteur du Sixième Sens de la « Petite Souris », en tout simplicité nous dévoile sans réserve, l'histoire de sa vie depuis le Vietnam sous les bombes françaises (1945) en passant par l'Europe dont la France, à nos jours. Une histoire époustouflante, parsemée de péripéties, de rebondissements et de surprises.
Un récit émouvant, bouleversant dans un style nouveau, fluide et agréable à lire.
Une touche de philosophie pour nous aider à garder le sourire devant toute adversité...

Jean-Claude Santerre - 34 Sète
15.08.09  
Cosette : rebondissements... elle a connu Folcoche, Mme Thénardier était sa soeur...
     La marâtre de Maï Ling, la Cosette vietnamienne, se montre pire que Folcoche, " l'héroïne " de Vipère au poing (Hervé Bazin).
Son père profite de l'exode qui suit la défaite française au Vietnam pour la soustraire de cette condition en la confiant à sa soeur qui part s'exiler en France.
Sa soeur va se révéler être une Madame Thénardier bis...
Une histoire vraie où Cosette ne trouvera jamais son Jean Valjean.

Patrick VIAL - IDF - fnac.com ♥♥♥♥
17.08.09
     "Il faut beaucoup de courage et un brin d'inconscience maîtrisée par le coeur, pour écrire une autobiographie certainement unique... l'auteur sans précaution littéraire nous livre les secrets de sa vie, son intimité la plus profonde... une écriture sans fioriture, directe et instinctive... l'amour et la confiance naïve des personnes et des hommes qui ont jalonnés sa vie, l'ont conduit comme victime expiatoire d'un destin qui n'était en rien écrit...."

JCM. Le Pec - 06.10.2009
     Le SIXIEME SENS - Mai Ling a écrit, peut-être sans s'en douter, un véritable chef-d'oeuvre. En effet, non seulement elle narre, avec une extrème simplicité, en toute sincérité et sans tabou, l'exacte histoire de sa vie, mais aussi, et surtout, elle révèle ce concept passé sous silence depuis toujours, même par les plus grandes civilisations, l'existence d'un "SIXIEME SENS" qui doit figurer au 1er rang, devant la vue, l'ouïe, le toucher, le goût et l'odorat.
     Le "SIXIEME SENS" n'est autre que l'Amour sous tous ses aspects, sexualité comprise. L'humain, à travers le monde et à toutes les époques, lors d'une naissance, n'a-t-il pas qu'une seule préoccupation; de quel sexe est-il, ce nouveau né? La naissance est la preuve par neuf du "SIXIEME SENS"; instant d'Amour, s'il en est (l'amour maternel pour le moins), et découverte du sexe.
     Elevons l'Amour au titre de SENS, corrigeons cet oubli ancestral (que quelques tentatives avaient pourtant tenté de combler -mais sans le qualifier de "sens", tel le fameux "faisons l'amour, pas la guerre"), c'est là l'invitation de Mai Ling !!!
Ainsi, tout sera dans le bon ordre, c'est une question de bon sens.

 

 

 

Publié par Mai Ling à 08:26:33 dans COMMENTAIRES DES LECTEURS | Commentaires (0) |

1| 2| >>

Tous les derniers titres